Tuyên truyền, phổ biến pháp luật tỉnh Lai Châu

http://pbgdpl.laichau.gov.vn


Xử lý đối với người có hành vi vi phạm về quy tắc giao thông đường bộ

Quá trình tham gia giao thông trên đường, tôi vẫn thấy một số người điều khiển xe máy, trong đó chủ yếu là lứa tuổi thanh niên vẫn sử dụng điện thoại di động, thiết bị nghe nhạc khi đang điều khiển xe, buông cả hai tay, đi xe bằng một bánh, sử dụng xe hoặc chở người ngồi trên xe máy để kéo, đẩy xe khác, vật khác, mang, vác và chở vật cồng kềnh rất nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn giao thông và gây mất trật tự, an toàn giao thông. Xin hỏi theo quy định của pháp luật thì những hành vi trên có vi phạm pháp luật không? Nếu có thì sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Khoản 3, 4 Điều 30 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy như sau:

“3. Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy không được thực hiện các hành vi sau đây:

a) Đi xe dàn hàng ngang;

b) Đi xe vào phần đường dành cho người đi bộ và phương tiện khác;

c) Sử dụng ô, điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính;

d) Sử dụng xe để kéo, đẩy xe khác, vật khác, mang, vác và chở vật cồng kềnh;

đ) Buông cả hai tay hoặc đi xe bằng một bánh đối với xe hai bánh, bằng hai bánh đối với xe ba bánh;

e) Hành vi khác gây mất trật tự, an toàn giao thông.

4. Người ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy khi tham gia giao thông không được thực hiện các hành vi sau đây:

a) Mang, vác vật cồng kềnh;

b) Sử dụng ô;

c) Bám, kéo hoặc đẩy các phương tiện khác;

d) Đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái;

đ) Hành vi khác gây mất trật tự, an toàn giao thông.”

Như vậy, theo quy định này thì người điều khiển xe máy sử dụng điện thoại di động, buông cả hai tay, đi xe bằng một bánh, sử dụng xe hoặc chở người ngồi trên xe máy để kéo, đẩy xe khác, vật khác, mang, vác và chở vật cồng kềnh là hành vi vi phạm về quy tắc giao thông đường bộ. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà người có hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý về hình sự, cụ thể như sau:

- Xử phạt vi phạm hành chính:

+ Người sử dụng xe hoặc chở người ngồi trên xe máy để kéo, đẩy xe khác, vật khác, mang, vác và chở vật cồng kềnh sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm điểm k, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (sau đây viết gọn là Nghị định số 100/2019/NĐ-CP), cụ thể như sau:

“3. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

k) Người đang điều khiển xe hoặc chở người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; chở người đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác;

+ Người đang điều khiển xe máy sử dụng điện thoại di động, thiết bị nghe nhạc sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm điểm h, khoản 4 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, cụ thể như sau:

 “4. Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

h) Người đang điều khiển xe sử dụng ô (dù), điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính.

+ Người điều khiển xe máy buông cả hai tay, đi xe bằng một bánh sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a, c, khoản 8 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, cụ thể như sau:

“8. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe;

b) …;

c) Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh;

- Xử lý về hình sự: Nếu người thực hiện các hành vi vi phạm trên mà gây thiệt hại cho người khác, thì tùy từng mức độ mà sẽ bị xử lý hình sự về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể như sau:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
top
down