Nhóm tình huống về Xét nghiệm và Quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy

Thứ năm - 15/10/2026 05:44
TÌNH HUỐNG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY VÀ CAI NGHIỆN (NGHỊ ĐỊNH 163/2026/NĐ-CP)
ảnh tạo bởi AI
ảnh tạo bởi AI

Tình huống 12: Anh Nguyễn Văn A, 27 tuổi, có kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy. Anh A không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và không thuộc các trường hợp dừng quản lý tại khoản 5 Điều 24 Luật Phòng, chống ma túy. Anh A có thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy không?

  • Trả lời: Điều 55 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định đối tượng bị áp dụng biện pháp quản lý là người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mà không bị xử lý hình sự và không thuộc các trường hợp dừng quản lý quy định tại khoản 5 Điều 24 Luật Phòng, chống ma túy (như người đã xác định bị nghiện, người bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc/trường giáo dưỡng, bị phạt tù, đã chết/mất tích...). Do đó, anh A thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Tình huống 13: Công an xã A tiếp nhận hai trường hợp nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn:

  1. Trường hợp 1: Công an xã nhận tin báo của người dân về việc anh Nguyễn Văn B tụ tập nghi sử dụng ma túy tại nhà trọ và đã tiến hành xác minh, làm rõ nội dung tin báo.

  2. Trường hợp 2: Khoảng 22 giờ, Công an xã phát hiện anh Nguyễn Văn A có biểu hiện la hét, nói nhảm, mất kiểm soát hành vi và cầm gậy đe dọa người xung quanh tại chợ. Cơ quan Công an quyết định tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với anh B và anh A có đúng căn cứ pháp luật không?

  3. Trả lời: Việc tiến hành xét nghiệm ma túy đối với cả hai trường hợp trên đều hoàn toàn đúng quy định pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Phòng, chống ma túy và Điều 56 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP:

    • Đối với anh B: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 56 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, căn cứ xét nghiệm là "Tin báo, tố giác của cá nhân, cơ quan, tổ chức đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh, làm rõ".

    • Đối với anh A: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 56 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, căn cứ xét nghiệm là "Người có biểu hiện mất năng lực nhận thức hoặc kiểm soát hành vi nghi do sử dụng ma túy".

Tình huống 14: Kiểm tra xe mô tô của anh Nguyễn Văn B, Công an xã phát hiện 1 ống thủy tinh, bật lửa đã qua sử dụng và túi nilon bám dính chất bột màu trắng nghi ma túy. Đây có phải căn cứ để tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể anh B không?

  • Trả lời: Theo điểm c khoản 1 Điều 56 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, việc phát hiện trên người, phương tiện hoặc nơi ở có dấu vết của chất ma túy hoặc dụng cụ, phương tiện sử dụng trái phép chất ma túy là căn cứ pháp lý để cơ quan có thẩm quyền tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể. Do đó, anh B thuộc trường hợp bị xét nghiệm ma túy theo quy định.

Tình huống 15: Anh Nguyễn Văn A điều khiển xe mô tô loạng choạng, mắt đỏ, đồng tử giãn, nói nhanh, cử chỉ kích động nghi sử dụng ma túy. Công an xã tiến hành xét nghiệm ma túy đối với anh A có phù hợp không?

  • Trả lời: Người điều khiển phương tiện giao thông có biểu hiện sử dụng chất kích thích nghi là ma túy là căn cứ tiến hành xét nghiệm được quy định cụ thể tại điểm đ khoản 1 Điều 56 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP. Do đó, việc Công an xã tiến hành xét nghiệm đối với anh A là hoàn toàn đúng pháp luật.

Tình huống 16: Kiểm tra quán karaoke lúc 22h, Công an phát hiện nhóm bạn trẻ nhảy múa bất thường, có dụng cụ và chất bột màu trắng nghi ma túy. Những người này không giải trình được lý do chính đáng có mặt. Cơ quan Công an có quyền xét nghiệm ma túy nhóm người này không?

  • Trả lời: Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 56 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, "Người có mặt tại các địa điểm có hành vi tổ chức, chứa chấp hoặc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không có lý do chính đáng" thuộc trường hợp cơ quan có thẩm quyền được tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể.

Tình huống 17: Anh Nguyễn Văn A, 24 tuổi, chủ động đến Công an xã Tân Kỳ tự khai báo hành vi sử dụng ma túy và đề nghị hỗ trợ. Cơ quan Công an tiến hành xét nghiệm ma túy anh A có đúng quy định không?

  • Trả lời: Theo điểm g khoản 1 Điều 56 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, người tự khai báo hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thuộc trường hợp được cơ quan có thẩm quyền tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể để xác định tình trạng và làm căn cứ áp dụng các biện pháp hỗ trợ, quản lý phù hợp.

Tình huống 18: Anh Nguyễn Văn A đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã đề nghị Trung tâm Y tế xã thực hiện xét nghiệm ma túy đối với anh A để kiểm tra việc chấp hành. Việc này có đúng thẩm quyền không?

  • Trả lời: Khoản 3 Điều 56 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định: "Công an cấp xã nơi quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thực hiện hoặc đề nghị cơ quan, người có chuyên môn thực hiện việc xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của người sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn quản lý." Do đó, Công an xã làm hoàn toàn đúng thẩm quyền.

Tình huống 19: Anh Nguyễn Văn A phản đối khi cán bộ y tế đề nghị lấy mẫu nước tiểu để xét nghiệm ma túy vì cho rằng chỉ được lấy máu. Pháp luật quy định những hình thức lấy mẫu xét nghiệm nào?

  • Trả lời: Khoản 4 Điều 56 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định rõ: "Hình thức lấy mẫu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể là lấy máu, lấy nước tiểu hoặc lấy các mẫu vật khác trên cơ thể." Tùy theo điều kiện thực tế và yêu cầu chuyên môn, cơ quan chức năng có quyền chọn hình thức lấy mẫu phù hợp. Việc đề nghị lấy mẫu nước tiểu là hoàn toàn hợp pháp.

Tình huống 20: Nơi lấy mẫu nước tiểu xét nghiệm ma túy được bố trí buồng riêng cho nam và nữ, đồng thời phân công cán bộ cùng giới giám sát. Quy định pháp luật về vấn đề này như thế nào?

  • Trả lời: Khoản 5 Điều 56 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định: "Nơi lấy mẫu nước tiểu phải có buồng riêng cho nam giới, nữ giới. Việc lấy mẫu nước tiểu phải có cán bộ cùng giới giám sát". Quy định này bảo đảm tôn trọng quyền riêng tư, nhân phẩm, đồng thời chống gian lận, tráo đổi mẫu xét nghiệm.

Tình huống 21: Khi lấy mẫu máu xét nghiệm ma túy em Nguyễn Văn A (17 tuổi), Công an xã mời mẹ em đến chứng kiến. Ngược lại, khi lấy mẫu nước tiểu của một người dưới 18 tuổi khác lại không yêu cầu cha mẹ chứng kiến. Việc này đúng hay sai?

  • Trả lời: Khoản 6 Điều 56 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định: "Trường hợp lấy mẫu xét nghiệm người dưới 18 tuổi phải có sự chứng kiến của cha, mẹ hoặc người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp, trừ trường hợp lấy mẫu nước tiểu." Do đó, cả hai trường hợp trên đều thực hiện hoàn toàn chính xác theo đúng quy định pháp luật.

Tình huống 22: Khi kết quả xét nghiệm của anh B dương tính với ma túy, Công an xã A (nơi phát hiện) tiến hành xác minh cư trú và xác định anh B cư trú thường xuyên tại xã Tân Kỳ. Công an xã A phải thực hiện trách nhiệm gì tiếp theo?

  • Trả lời: Theo khoản 1 Điều 57 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, Công an xã A có trách nhiệm gửi Thông báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo mẫu quy định đến Trưởng Công an xã Tân Kỳ để tổ chức quản lý và lập hồ sơ quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Tình huống 23: Thông báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gửi đến Công an cấp xã nơi cư trú phải kèm theo những tài liệu nào?

  • Trả lời: Căn cứ khoản 2 Điều 57 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, hồ sơ gửi kèm thông báo gồm:
    • Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể theo mẫu quy định.
    • Tài liệu, biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tài liệu về những lần sử dụng/cai nghiện trước đây (nếu có).
    • Bản tường trình của người sử dụng trái phép chất ma túy theo mẫu quy định.

Tình huống 24: Thời hạn xác minh nơi cư trú của người có kết quả xét nghiệm ma túy dương tính được quy định bao lâu? Công an xã A xác minh anh B trong 18 giờ, Công an xã vùng cao xác minh anh C trong 40 giờ có đúng hạn không?

  • Trả lời: Khoản 1 Điều 58 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định thời hạn xác minh cư trú là 24 giờ kể từ khi có kết quả xét nghiệm dương tính. Đối với địa bàn miền núi, hải đảo, vùng xa xôi hẻo lánh đi lại khó khăn, thời hạn không quá 48 giờ. Do đó, cả 2 trường hợp (18 giờ thường và 40 giờ vùng cao) đều đảm bảo đúng thời hạn luật định.

Tình huống 25: Anh Nguyễn Văn A không có nơi cư trú ổn định nhưng có địa chỉ đăng ký thường trú tại xã B. Khi Công an xã X phát hiện anh A sử dụng ma túy, thông báo được gửi cho những ai?

  • Trả lời: Theo khoản 6 Điều 58 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi có kết quả xác minh cư trú, Công an xã X gửi thông báo và tài liệu liên quan cho Trưởng Công an cấp xã nơi phát hiện (xã X) và Trưởng Công an cấp xã nơi đăng ký thường trú (xã B).

Tình huống 26: Trong thời hạn bao lâu kể từ khi nhận được Thông báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Trưởng Công an cấp xã phải ra Quyết định quản lý?

  • Trả lời: Theo khoản 1 Điều 59 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được thông báo, Trưởng Công an cấp xã có thẩm quyền phải ban hành Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và tổ chức thực hiện quản lý.

Tình huống 27: Anh A chấp hành quản lý tại xã B được 05 tháng (trên tổng số 12 tháng) thì chuyển nơi cư trú đến xã C. Trưởng Công an xã C ra Quyết định quản lý mới. Thời hạn quản lý tại xã C được tính thế nào?

  • Trả lời: Theo khoản 1 Điều 62 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, khi chuyển nơi cư trú, thời gian đã chấp hành được tính nối tiếp. Anh A đã chấp hành 05 tháng tại xã B nên chỉ tiếp tục thực hiện 07 tháng quản lý còn lại tại xã C, tuyệt đối không tính lại từ đầu 12 tháng.

Tình huống 28: Anh A đang bị quản lý người sử dụng ma túy thì bị khởi tố, tạm giam trong một vụ án hình sự khác. Ai có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ quản lý?

  • Trả lời: Theo khoản 1 Điều 63 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, Trưởng Công an cấp xã nơi đang quản lý (Trưởng Công an xã A) là người có thẩm quyền ra Quyết định tạm đình chỉ quản lý đối với anh A trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam.

Tình huống 29: Hết thời hạn 12 tháng quản lý, anh A không bị phát hiện tái sử dụng ma túy. Ai có thẩm quyền ra Quyết định chấm dứt quản lý?

  • Trả lời: Theo khoản 3 Điều 63 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, Trưởng Công an cấp xã nơi đang quản lý (Trưởng Công an xã A) có thẩm quyền ban hành Quyết định chấm dứt quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Tình huống 30: Công an xã A phát hiện anh B (cư trú xã C) dùng ma túy và đưa anh B cùng hồ sơ về xã C. Chi phí vận chuyển này do anh B trả hay do Nhà nước đảm bảo?

  • Trả lời: Theo điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 65 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, chi phí đưa người sử dụng trái phép chất ma túy và hồ sơ liên quan về Công an cấp xã có thẩm quyền quản lý do ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp, anh B không phải tự chi trả.

Tác giả: Kiều Oanh

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây