Nhóm tình huống về Biện pháp Giám sát điện tử
Tình huống 1: Anh A, 25 tuổi, đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Trong quá trình cai nghiện, anh A được thông báo sẽ bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử bằng thiết bị giám sát đeo trên cơ thể để xác định vị trí. Anh A băn khoăn không biết thiết bị giám sát điện tử là gì và mình sẽ phải đeo thiết bị giám sát điện tử trong thời gian bao lâu?
- Trả lời: Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy: "Thiết bị giám sát điện tử là thiết bị giám sát định vị viễn thông đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, được đeo trên cơ thể để xác định vị trí của người bị giám sát, do Bộ Công an trang cấp." Tại điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định: "Người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, quản lý sau cai nghiện ma túy." Như vậy, trong tình huống trên, anh A bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong suốt thời gian thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Tình huống 2: Anh A đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử theo quy định của pháp luật. Trong thời gian cai nghiện, anh A bị đau bụng và được đưa đến bệnh viện để chụp CT, chụp X-quang và thực hiện một số kỹ thuật y tế. Bác sĩ cho biết cần tháo thiết bị giám sát điện tử để bảo đảm an toàn và tránh ảnh hưởng đến quá trình chụp chiếu. Gia đình anh A băn khoăn liệu anh A có được tháo thiết bị giám sát điện tử hay không và gia đình có thể tự tháo thiết bị giám sát điện tử hay không?
- Trả lời: Theo điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định người bị giám sát điện tử được tháo tạm thời thiết bị giám sát điện tử trong trường hợp: "Vì mục đích khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh". Như vậy, anh A hoàn toàn được tháo tạm thời thiết bị. Tuy nhiên, gia đình không được tự ý tháo. Người đang bị đeo thiết bị giám sát phải làm đơn đề nghị tháo tạm thời gửi Công an cấp xã nơi thực hiện giám sát để tiến hành tháo theo đúng quy trình. Trường hợp khám chữa bệnh khẩn cấp ngoài phạm vi cư trú, có thể đề nghị Công an cấp xã nơi khám chữa bệnh tiến hành tháo tạm thời và thông báo cho Công an cấp xã nơi quản lý biết. Ngoài ra, theo Điều 24 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, hành vi tự ý tháo thiết bị giám sát điện tử là vi phạm pháp luật.
Tình huống 3: Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với anh Nguyễn Văn A có hiệu lực thi hành từ 08 giờ 00 phút ngày 16/8/2026. Đến 09 giờ 00 phút ngày 16/8/2026, cán bộ Công an xã đến nơi cư trú của anh A để thi hành quyết định và đeo thiết bị. Anh A đề nghị: "Hiện tôi đang có việc gia đình, xin cho tôi 03 ngày nữa mới đeo thiết bị giám sát điện tử." Cán bộ Công an xã có được chấp nhận đề nghị của anh A hay không?
- Trả lời: Tại khoản 1 Điều 17 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định: "Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực thi hành, cán bộ Công an cấp xã được giao nhiệm vụ thực hiện giám sát điện tử có trách nhiệm thi hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử và tiến hành đeo thiết bị giám sát lên cơ thể người bị giám sát..." Do đó, quy định pháp luật bắt buộc phải thi hành trong thời hạn 24 giờ kể từ khi quyết định có hiệu lực. Việc anh A đề nghị lùi thời gian đeo thiết bị thêm 03 ngày là không phù hợp với quy định của pháp luật. Cán bộ Công an xã không được chấp nhận.
Tình huống 4: Anh Nguyễn Văn N đang chấp hành biện pháp giám sát điện tử. Thiết bị liên tục phát tín hiệu cảnh báo, không ghi nhận dữ liệu và dây đeo có dấu hiệu bị lỗi kỹ thuật mặc dù anh N sử dụng đúng hướng dẫn. Anh N liên hệ ngay với Công an cấp xã để báo cáo. Trong trường hợp này, anh N có được thay thiết bị hoặc phụ kiện mới không?
- Trả lời: At khoản 4 Điều 19 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định: "Khi xác định thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị bị hỏng, gặp sự cố kỹ thuật, cán bộ Công an cấp xã tiến hành thay thế thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị cho người bị giám sát, bảo đảm thiết bị và phụ kiện kèm theo hoạt động bình thường..." Do sự cố kỹ thuật không xuất phát từ lỗi của anh N, Công an cấp xã có trách nhiệm kiểm tra, xác minh và tiến hành lập biên bản thay thế thiết bị, phụ kiện mới cho anh N để bảo đảm quá trình giám sát diễn ra liên tục.
Tình huống 5: Anh A đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và đeo thiết bị giám sát. Trong thời gian này, anh A bị Tòa án xét xử về hành vi trộm cắp tài sản thực hiện trước đó và tuyên phạt 18 tháng tù giam. Cơ quan thi hành án hình sự ra quyết định thi hành án phạt tù và đưa anh A đến cơ sở giam giữ. Anh A có tiếp tục phải đeo thiết bị giám sát điện tử hay không?
- Trả lời: Theo điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử chấm dứt khi người bị giám sát điện tử phải chấp hành án phạt tù. Do đó, sau khi có quyết định thi hành án phạt tù, cơ quan Công an có thẩm quyền sẽ tiến hành tháo thiết bị giám sát điện tử và chấm dứt áp dụng biện pháp này đối với anh A để chuyển sang quản lý theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Tình huống 6: Anh B đang cai nghiện ma túy tại gia đình và áp dụng giám sát điện tử tại xã A. Gia đình anh B bán nhà tại xã A và chuyển đến sinh sống lâu dài tại xã C. Việc quản lý, giám sát điện tử đối với anh B sẽ do cơ quan nào thực hiện?
- Trả lời: Tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định: "Khi người bị giám sát điện tử thay đổi nơi cư trú, Công an cấp xã nơi chuyển đi bàn giao việc giám sát điện tử cho Công an cấp xã nơi chuyển đến trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm người bị giám sát điện tử hoàn thành thủ tục thay đổi nơi cư trú theo quy định để tiếp tục thực hiện giám sát, quản lý. Trưởng Công an cấp xã nơi người bị giám sát chuyển đến ra quyết định phân công cán bộ tiếp nhận và thực hiện biện pháp giám sát điện tử đối với thời hạn còn lại..." Do đó, sau khi hoàn tất thủ tục chuyển cư trú, Công an xã C (nơi cư trú mới) sẽ trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, bàn giao thiết bị và quản lý, giám sát điện tử đối với anh B.
Tình huống 7: Anh D đang cai nghiện ma túy tại gia đình và đeo thiết bị giám sát. Khi thiết bị bị lỗi, anh D đã báo Công an xã. Tuy nhiên trong thời gian chờ xử lý, anh D tự ý tháo thiết bị để lại nhà và sang tỉnh khác thăm người thân trong ngày. Cơ quan Công an phát hiện thiết bị bị tháo và anh D rời khỏi nơi cư trú. Anh D đã thực hiện đúng nghĩa vụ hay chưa?
- Trả lời: Anh D đã thực hiện đúng nghĩa vụ khi báo cáo việc thiết bị gặp sự cố trong thời hạn 24 giờ theo điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP. Tuy nhiên, anh D đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 23 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP vì đã tự ý tháo thiết bị giám sát điện tử và tự ý rời khỏi nơi cư trú khi chưa được cơ quan Công an có thẩm quyền cho phép.
Tình huống 8: Anh E thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Do đi làm ở nơi không có điện, thiết bị hết pin. Khi về nhà từ chiều, anh E cố tình không sạc pin dẫn đến thiết bị hết pin liên tục trong hơn 24 giờ. Anh E có vi phạm quy định không và bị xử lý thế nào?
- Trả lời: Theo điểm d khoản 1 Điều 24 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, hành vi "Cố ý để thiết bị giám sát điện tử hết pin trong thời hạn 24 giờ mà không có lý do chính đáng" là hành vi vi phạm pháp luật về giám sát điện tử. Căn cứ khoản 4 Điều 25 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, anh E sẽ bị lập biên bản vi phạm và tổ chức nhắc nhở đối với 02 lần đầu. Nếu không khắc phục trong 24 giờ kể từ khi lập biên bản hoặc vi phạm lần thứ 3 sẽ bị lập biên bản về hành vi không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử và bị xử lý theo khoản 2 Điều 47 của Luật Phòng, chống ma túy.
Tình huống 9: Anh D đang cai nghiện ma túy tại gia đình và đeo thiết bị giám sát điện tử. Anh D thắc mắc quyền của người bị giám sát điện tử gồm những quyền gì?
- Trả lời: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, người bị giám sát điện tử có các quyền sau: a) Được phổ biến, quán triệt về quy định, chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm về biện pháp giám sát điện tử; b) Được tư vấn, hướng dẫn về tính năng, tác dụng và cách sử dụng thiết bị giám sát điện tử; c) Đề nghị Công an cấp xã tháo tạm thời, thay đổi vị trí đeo thiết bị giám sát điện tử trên cơ thể theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 19 của Nghị định này.
Tình huống 10: Anh B đã chấp hành đeo thiết bị giám sát điện tử được 01 năm, luôn tuân thủ đầy đủ các quy định, không vi phạm. Anh B băn khoăn liệu mình có được miễn chấp hành thời gian còn lại của biện pháp giám sát điện tử không?
- Trả lời: Tại điểm a khoản 3 Điều 20 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP quy định: Trưởng Công an cấp xã xem xét ra quyết định miễn áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với thời gian còn lại cho người bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử sau khi thực hiện quyết định được 01 năm mà trong quá trình thực hiện không có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 24 của Nghị định này hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác. Do đó, anh B hoàn toàn đủ điều kiện để được Trưởng Công an cấp xã xem xét ra quyết định miễn chấp hành thời gian còn lại.
Tình huống 11: Anh Nguyễn Văn H đang đeo thiết bị giám sát thì địa phương xảy ra mưa bão lớn, mất điện và gián đoạn viễn thông nhiều giờ khiến thiết bị ngừng truyền dữ liệu. Ngay khi có điện lại, anh H đã báo cán bộ quản lý. Cơ quan chức năng xác định do thiên tai bất khả kháng. Anh H có bị xem là vi phạm không?
- Trả lời: Theo khoản 2 Điều 24 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, do thiết bị ngừng hoạt động bởi sự kiện bất khả kháng (thiên tai gây mất điện, mất kết nối mạng) và anh H đã kịp thời thông báo, nên không xác định đây là hành vi vi phạm của người bị giám sát. Cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành các biện pháp kỹ thuật để khôi phục hoạt động của thiết bị và tiếp tục quản lý theo quy định.