Trong ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 06/2025/TLPT-HS, ngày 07/11/2025 đối với bị cáo Khà Thị V, do có Kháng cáo của bị cáo Khà Thị V.
* Bị cáo có khảng cáo: Họ và tên: Khà Thị V, sinh ngày 21/01/1985 tại huyện M, tỉnh Hòa Bình (cũ), nay là tỉnh Phú Thọ; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản Mạ, xã T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: giáo viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khà Văn T (đã chết) và con bà Ngần Thị H, sinh năm 1954; chồng: Trần Văn D, sinh năm 1985 (đã ly hôn năm 2022), con: bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/4/2025 cho đến nay (có mặt).
* Bị hại: 1. Anh Phạm Xuân T1, sinh năm 1984; 2. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989; Đều trú tại: Bản C, xã T, tỉnh Lai Châu; A Phạm Xuân T1 là người đại diện theo uỷ quyền của chị Nguyễn Thị H1, (có đơn xin xét xử vắng mặt). * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 1. Anh Trần Quốc M, sinh năm 1983; trú tại: T C, xã M, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt). 2. Anh Hà Công T2, sinh năm 1997; trú tại: Xóm H, xã B, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 01/3/2023, Khà Thị V thuê 01 chiếc xe ô tô con để tự lái, nhãn hiệu Huyndai, loại: Grand i10, biển kiểm soát 25A-052.30 của anh Phạm Xuân T1 và vợ là chị Nguyễn Thị H1. Các bên thỏa thuận giá thuê xe là 500.000 đồng/ngày, không lập hợp đồng thuê bằng văn bản mà chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không thỏa thuận về thời hạn thuê và phương thức, thời điểm thanh toán. Khi cho thuê xe, anh T1 đã giao xe và đưa cho V toàn bộ giấy tờ xe. Mục đích thuê xe của V để sử dụng làm phương tiện đi lại, kinh doanh việc mua bán cây cho các công trình. Đến ngày 27/5/2023, khi đang ở thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình (cũ), do thiếu tiển, V đã nảy sinh ý định bán chiếc xe ô tô của anh T1 lấy tiền chi trả cho việc mua cây công trình tại tỉnh Hòa Bình (cũ), nay là tỉnh Phú Thọ. V điều khiển xe ô tô của anh T1 gặp Trần Quốc M, cư trú tại T C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình, nay là xã M, tỉnh Phú Thọ để bán xe cho anh M. Quá trình bán xe, V nói với anh M là xe của V đang làm lại giấy tờ nên chưa có giấy tờ xe để đưa cho anh M, V viết giấy bán xe, đồng thời để lại cho M cầm thẻ căn cước công dân của V và hẹn khi nào làm xong giấy tờ xe thì sẽ giao cho anh M, anh M đồng ý mua chiếc xe ô tô trên của V với giá 50.000.000 đồng. Sau khi bán chiếc xe ô tô thuê của anh T1 cho M, V đã dùng tiền bán xe chi trả các khoản nợ của mình và không thông báo cho cho chủ xe là anh T1 biết. là Đến tháng 8/2024, V không thanh toán tiền thuê xe cho anh T1 mặc dù anh T1 đã nhiều lần đòi Vương tiền thuê và yêu cầu trả lại xe. Ngày 23/8/2024, V đến gặp anh T1 nói chuyện và đề nghị anh T1 giảm tổng số tiền kể từ khi thuê xe 270.000.000 đồng xuống còn 200.000.000 đồng, anh T1 đồng ý. V có viết giấy cam kết xác nhận có nợ tiền thuê xe của anh T1 là 200.000.000 đồng, hẹn đến 20/10/2024 sẽ thanh toán toàn bộ số tiền này. Khi đến thời hạn thỏa thuận trả nợ, V vẫn không trả tiền thuê và xe cho anh T1. Tháng 11/2024, V đem trả giấy tờ xe cho anh T1. Đến tháng 01/2025, V không trả được tiền thuê và xe cho anh T1 nên anh T1 đã trình báo vụ việc đến Công an.
Đối với xe ô tô Trần Quốc M mua từ Khà Thị V, ngày 30/5/2023, M đã bán lại cho anh Hà Công T2 (sinh năm: 1997, cư trú tại xóm H, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình, nay là xã B, tỉnh Phú Thọ) với giá 59.000.000 đồng. Quá trình bán xe cho T2, anh M nói chủ cũ đang làm lại giấy tờ xe, khi nào nhận được giấy tờ thì M sẽ đưa cho anh T2. Sau một thời gian sử dụng xe không thấy M giao giấy tờ xe nên T2 tìm cách liên hệ với chủ phương tiện để hỏi về giấy tờ đăng ký xe. T2 liên hệ với Lò Văn T3 (sinh năm 1995; cư trú tại bản Mạ, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu, nay là xã T, tỉnh Lai Châu) là người chủ cũ đã bán xe cho anh Phạm Xuân T1. Từ đó, anh T1 mới biết việc Khà Thị V đã bán chiếc xe ô tô thuê của mình cho người khác.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe ô tô trên từ H để giải quyết theo quy định. Trần Quốc M giao nộp cho cơ quan điều tra 01 căn cước công dân mang tên Khà Thị V. Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS, ngày 27/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T kết luận: 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, loại: Grand i10, số sàn, sản xuất năm 2016 tại Ấn Độ, biển kiểm soát 25A-052.30 trị giá 160.000.000 đồng.
Bản án hình sự sơsơ thẩm số: 42/2025/HS-ST, ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu đã quyết định: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, v khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Khà Thị V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Khà Thị V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án. Ngoài bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/10/2025, bị cáo Khà Thị V kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu trình bày quan điểm: Chủ thể kháng cáo, thủ tục kháng cáo, thời hạn kháng cáo đảm bảo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333, 335 Bộ luật tố tụng hình sự. Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 23/9/2025 của TAND khu vực 2 - Lai Châu, đã xét xử bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 175 BLHS và xử phạt bị cáo với mức án 02 năm 06 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới liên quan đến việc bị cáo có ông nội là Khà Văn T4 (Khà Văn D1) được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại và tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại tiếp tục đề nghị xem xét giảm hình phạt cho hưởng án treo cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận đơn kháng cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo theo hướng theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Những nội dung khác của bản án, không bị kháng cáo, kháng nghị, qua nghiên cứu không có vi phạm nghiêm trọng tố tụng hình sự, nên không xem xét giải quyết.