Câu 1. Đề nghị cho biết, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định như thế nào về thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai?
Trả lời:
Điều 57 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định về thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai như sau:
- Thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi thực hiện các biện pháp tránh thai do người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ định nhưng không quá 07 ngày đối với lao động nữ đặt dụng cụ tránh thai trong tử cung và không quá 15 ngày đối với người lao động thực hiện biện pháp triệt sản.
- Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định nêu trên tính cả ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Câu 2. Đề nghị cho biết, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định như thế nào về thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định, trong thời gian 30 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định, nếu lao động nữ chưa phục hồi sức khỏe thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe liên tục bao gồm cả ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.
Khoản 2 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định, thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản nêu trên do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định; trường hợp hai bên có ý kiến khác nhau thì người sử dụng lao động quyết định số ngày nghỉ trên cơ sở đề nghị của Ban Chấp hành công đoàn cơ sở, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa có công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tối đa được quy định như sau:
(i) 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên;
(ii) 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật;
(iii) 05 ngày đối với trường hợp khác.
Câu 3. Chị O có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Vừa qua, chị sinh con bằng phương pháp phẫu thuật. Chị O đề nghị cho biết, khi nào chị được nộp hồ sơ hưởng chế độ thai sản và trợ cấp dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau sinh. Việc giải quyết các chế độ này như thế nào?
Trả lời:
Vấn đề chị O hỏi được quy định tại Điều 62 và Điều 63 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 như sau:
a) Về giải quyết chế độ thai sản đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc:
- Người lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ hưởng chế độ thai sản cho người sử dụng lao động. Thời hạn nộp hồ sơ chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm lập danh sách người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản kèm theo hồ sơ của người lao động nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
- Trong trường hợp thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận con khi nhờ mang thai hộ, nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi hoặc không còn người sử dụng lao động, thì người lao động nộp hồ sơ hưởng chế độ thai sản cho cơ quan bảo hiểm xã hội
- Cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người sử dụng lao động, 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
b) Về giải quyết trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản:
- Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày người lao động nghỉ việc hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản, người sử dụng lao động lập danh sách người lao động nghỉ việc hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản và nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
- Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận danh sách theo quy định, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Căn cứ quy định nêu trên, chị O có trách nhiệm nộp hồ sơ hưởng chế độ thai sản cho người sử dụng lao động trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản (thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động: Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng; trường hợp sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng).
Câu 4. Đề nghị cho biết, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định như thế nào về mức lương hưu hàng tháng?
Trả lời:
Người đủ điều kiện hưởng lương hưu (có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên và đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định pháp luật về lao động), thì được hưởng mức lương hưu hàng tháng theo quy định tại Điều 66 như sau:
- Đối với lao động nữ bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tương ứng 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%;
- Đối với lao động nam bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tương ứng 20 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%.
Trường hợp lao động nam có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm, mức lương hưu hằng tháng bằng 40% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tương ứng 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 1%.
Trong đó, mức tiền lương lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được quy định tại Điều 72 như sau:
a) Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau:
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01/01/1995 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 05 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1995 đến ngày 31/12/2000 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 06 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2001 đến ngày 31/12/2006 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 08 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2007 đến ngày 31/12/2015 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2019 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2024 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 20 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
- Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2025 trở đi thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
b) Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
c) Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian.
Câu 5. Theo tỷ lệ trượt giá, hàng năm Nhà nước quy định tăng lương cho người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định. Vậy xin hỏi, đối với người hưởng lương hưu, việc điều chỉnh lương dựa trên cơ sở nào?
Điều 67 Luật bảo hiểm xã hội năm 2024, quy định về điều chỉnh nghỉ hưu như sau:
- Lương hưu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội.
- Đối với đối tượng có mức lương hưu thấp và nghỉ hưu trước năm 1995, điều chỉnh mức tăng lương hưu thỏa đáng bảo đảm thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu giữa người nghỉ hưu ở các thời kỳ.
Như vậy, lương hưu sẽ được điều chỉnh trên ba cơ sở: (i) mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng; (ii) khả năng của ngân sách nhà nước và (iii) quỹ bảo hiểm xã hội.
Câu 6. Bà A nói, chồng bà sẽ nghỉ hưu vào năm 2026, do ông ấy đã làm việc hơn 37 năm nên ông ấy vừa được hưởng lương hưu lại vừa được hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu. Nhiều người cho rằng bà A nói như thế là sai, vì khi đến tuổi nghỉ hưu thì chỉ được lựa chọn hưởng lương hưu hoặc hưởng trợ cấp một lần. Xin hỏi ý kiến nào đúng?
Trả lời:
Ý kiến của bà A là đúng.
Điều 68 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, quy định về trợ cấp một lần khi nghỉ hưu như sau:
- Lao động nam có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 35 năm, lao động nữ có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 30 năm thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.
- Mức hưởng trợ cấp một lần bằng 0,5 lần của mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho mỗi năm đóng cao hơn đến tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu mà tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội thì mức trợ cấp bằng 02 lần của mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho mỗi năm đóng cao hơn số năm nêu trên kể từ sau thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật đến thời điểm nghỉ hưu.
Đối với ý kiến là người lao động chỉ được lựa chọn hưởng lương hưu hoặc hưởng trợ cấp một lần, có thể họ hiểu nhầm giữa trợ cấp một lần khi nghỉ hưu với hưởng bảo hiểm xã hội một lần. Theo đó, hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu là trường hợp có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 35 năm trở lên đối với nam (như chồng bà A) và hơn 30 năm trở lên đối với nữ. Còn hưởng bảo hiểm xã hội một lần là đối tượng đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng chưa đủ điều kiện nghỉ hưu và không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội nữa (như đủ tuổi hưởng lương hưu mà chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội; Ra nước ngoài để định cư; Người bị mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS; Người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng…).
Câu 7. Đề nghị cho biết, khi nào người lao động tham gia bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu?
Trả lời:
Thời điểm hưởng lương hưu của mỗi người căn cứ vào người đó thuộc đối tượng nào khi tham gia bảo hiểm xã hội. Cụ thể, Điều 69 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định thời điểm hưởng lương hưu như sau:
- Đối với người lao động theo hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên; cán bộ, công chức, viên chức; công nhân viên quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu, người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã/thôn/tổ dân phố… đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì thời điểm hưởng lương hưu là thời điểm đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định và được ghi trong văn bản của người sử dụng lao động xác định việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xác định việc chấm dứt làm việc.
- Đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Vợ hoặc chồng không hưởng lương từ ngân sách nhà nước được cử đi công tác nhiệm kỳ cùng thành viên cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài được hưởng chế độ sinh hoạt phí; Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh tham gia theo quy định của Chính phủ; Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã không hưởng tiền lương và người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, thì thời điểm hưởng lương hưu là thời điểm đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định và được ghi trong văn bản đề nghị của người lao động.
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn