Thứ hai, 22/04/2024, 12:46
hoagiaiocoso

Xử lý hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác qua mạng xã hội

Chủ nhật - 11/12/2022 11:00 1.259 0

Cơ quan em có một chị rất hay đưa thông tin không đúng, thậm chí xúc phạm đến danh dự của đồng nghiệp trên mạng xã một cách vô cớ.

Lãnh đạo đơn vị đã nhiều lần nhắc nhở, song không hề có tác dụng mà ngược lại, chính lãnh đạo đơn vị cũng bị chị này làm điều tương tự.

Trả lời

Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín như sau:

“1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại”.

Danh dự, nhân phẩm, uy tín là quyền cá nhân được pháp luật quy định và có cơ chế bảo vệ. Người nào xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác, tùy theo tính chất, mức độ và thiệt hại xảy ra mà có thể phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự, bồi thường thiệt hại dân sự. Cụ thể:

Về trách nhiệm dân sự:

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, theo khoản 1 Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm:

“a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định”.

Theo khoản 2 của Điều này, “Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.

Nếu có thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị hại có thể khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án giải quyết bảo vệ quyền và lợi ích của mình.

Về trách nhiệm hình sự:

Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định Tội làm nhục người khác như sau:

“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%75.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên76;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Về trách nhiệm hành chính:

Nếu không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác, người này có thể  bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm g khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ, với mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng về hành vi “Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác”.

Thêm nữa, còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung được quy định tại điểm b khoản 8 của Điều này là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu có hành vi nêu trên.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

Văn bản QPPL Lai Châu
Tiếp cận thông tin
PBGDPL nước ngoài
Dự thảo văn bản
Chuyển đổi số
  • Đang truy cập52
  • Hôm nay17,478
  • Tháng hiện tại296,510
  • Tháng trước356,589
  • Tổng lượt truy cập4,316,896
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
top
down