Thứ năm, 08/12/2022, 23:46

Vàng Văn L và đồng bọn - phạm tội trộm cắp tài sản

Thứ sáu - 01/04/2022 04:09 336 0
Chiều ngày 24/4/2019,Vàng Văn L, Sằn Văn T đem theo một chiếc ba lô bên trong đựng 03 đôi găng tay, 02 cờ lê, 01 tuốc nơ vít, 01 kìm kim loại, 02 cờ lê lực đấu rời cùng với một số đồ vật khác đến huyện M, tỉnh Lai Châu thuê nhà nghỉ tại thị trấn M để nghỉ. Sáng ngày 25/4/2019, cả hai đi xe tô biển kiểm soát 27B1- 545.19 vào xã M nhằm mục đích tìm máy xúc để trộm cắp linh kiện đem đi bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến một bãi cát thuộc bản N, xã M, huyện M, Vàng Văn L, Sằn Văn T phát hiện 01 máy xúc màu vàng, hiệu KOMATSU PC200-8 của ông Trần Văn S, sinh năm 1972 trú tại tổ 01, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu để dưới mép sông không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp linh kiện. Cả hai dừng xe, T đứng bên cạnh xe tô để cảnh giới, còn L cầm theo kìm, kéo, tuốc nơ vít, cờ lê đến trèo lên máy xúc dùng kìm cạy rồi mở cửa để vào trong cabin, dùng tuốc nơ vít, cờ lê, kéo tháo ốc, cắt dây điện trộm cắp 01 màn hình hiển thị và 01 hộp đen của máy xúc trị giá 64.987.000 đồng. Sau khi trộm cắp được tài sản, L đến chỗ T cho tài sản vào ba lô để trước xe tô rồi cùng nhau quay về trung tâm huyện
M. Trên đường đi, khi đến km 276 + 300 Quốc lộ 4H thuộc địa phận bản H, xã B, huyện M, cả hai giấu ba lô bên trong có màn hình, hộp đen vừa trộm cắp được cùng với công cụ dùng để trộm cắp xuống tà luy âm rồi tiếp tục điều khiển xe đi về trung tâm huyện M. Đến 16 giờ 00 phút cùng ngày, khi L, T đến ngã ba dốc đỏ thuộc khu 9, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác của Công an huyện M dừng xe kiểm tra, lập biên bản sự việc. Ngày 26/4/2019, Vàng Văn L, Sằn Văn T bị Cơ quan cảnh sát điều tra ra lệnh giữ người và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Tại kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 03/5/2019 của Hội đồng định giá trong tố tung hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Lai Châu kết luận: 01 hộp đen và 01 màn hình của máy xúc KOMATSU PC 200-8 có tổng trị giá 64.987.000 đồng.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tại phiên tòa lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai bị hại, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường ... và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 27/9/2018 đến ngày 25/4/2019, tại địa bàn các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Hòa Bình, Sơn La. Bằng thủ đoạn lợi dụng sự sơ hở trong trông coi, bảo vệ tài sản là máy xúc của chủ sở hữu, các bị cáo: Vàng Văn L, Sằn Văn T, Nguyễn Tiến L, Điêu Văn T và Phạm Huy Đ đã thực hiện 19 lần trộm cắp tài sản là linh kiện máy xúc với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 1.195.312.000 đồng. Cụ thể: Bị cáo Vàng Văn L thực hiện 19 lần trộm cắp tài sản, với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 1.195.312.000 đồng; Bị cáo Sằn Văn T thực hiện 13 lần trộm cắp tài sản, với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 883.033.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Tiến L thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản, với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 558.127.000 đồng; Bị cáo Điêu Văn T thực  hiện 12 lần trộm cắp tài sản, với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 504.467.000 đồng; Bị cáo Phạm Huy Đ thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản, với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 249.500.000 đồng.
Sau khi trộm cắp được tài sản, các bị cáo đem về Hà Nội bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân, trong đó 01 lần bị cáo Vàng Văn L trực tiếp đem 02 hộp đen, 02 màn hình hiển thị trộm cắp được, trị giá 74.980.000 đồng bán cho bị cáo Ngô Doãn T tại quận H, thành phố Hà Nội.
Bị cáo Ngô Doãn T mặc dù không hứa hẹn trước nhưng biết rõ tài sản gồm 01 màn hình hiển thị, 01 hộp đen của máy xúc KOMATSU PC210-8 và 01 màn hình hiển thị, 01 hộp đen của máy xúc KOBELCO 200-6LC do Vàng Văn L phạm tội có nhưng vẫn thực hiện hành vi tiêu thụ, với tổng trị giá tài sản tiêu thụ là 74.980.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Vàng Văn L, Sằn Văn T, Nguyễn Tiến L, Điêu Văn T là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo Phạm Huy Đ là rất nguy hiểm cho xã hội; hành vi của các bị cáo xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa tỉnh Lai Châu và các khu vực lân cận. Hành vi của bị cáo Ngô Doãn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ý thức được điều đó, nhưng vì tư lợi nên đã thúc đẩy các bị cáo phạm tội, các bị cáo đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo Vàng Văn L, Sằn Văn T, Điêu Văn T, Nguyễn Tiến L và Phạm Huy Đ cùng nhau bàn bạc việc trộm cắp linh kiện máy xúc. Bị cáo Vàng Văn L là người có vai trò cao nhất, tích cực nhất trong vụ án, tổng số 19 lần trộm cắp trên thì 17 lần L là chủ mưu, trực tiếp chiếm đoạt linh kiện máy xúc và đi tiêu thụ. Bị cáo Săn Văn T là người thực hành, giúp sức thực hiện 13 lần trộm cắp; Bị cáo Nguyễn Tiến L là người thực hành, giúp sức thực hiện 05 lần trộm cắp và 02 lần cùng Đ chủ mưu; bị cáo Điêu Văn T thực hành, giúp sức thực hiện 12 lần trộm cắp; bị cáo Đ thực hành, giúp sức thực hiện 04 lần trộm cắp và 02 lần cùng Nguyễn Tiến L chủ mưu. Vì vậy, các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mình đã gây ra.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vàng Văn L, Điêu Văn T;

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Sằn Văn T;
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến L;
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Huy Đ.
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 323, điểm b, i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Doãn T;
Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo;
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự đối với các bị cáo Vàng Văn L, Sằn Văn T, Điêu Văn T, Nguyễn Tiến L và Phạm Huy Đ; Căn cứ Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự đối với bị cáo Ngô Doãn T.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 (đối với bị cáo Vàng Văn L, Sằn Văn T, Điêu Văn T), Điều 23 (đối với bị cáo Nguyễn Tiến L, Phạm Huy Đ, Ngô Doãn T) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố các bị cáo Vàng Văn L, Sằn Văn T, Điêu Văn T, Nguyễn Tiến L và Phạm Huy Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản"; bị cáo Ngô Doãn T phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội có".


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Danh mục
Dự thảo văn bản
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập35
  • Hôm nay5,094
  • Tháng hiện tại35,722
  • Tháng trước157,733
  • Tổng lượt truy cập1,439,647
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
top
down